Monday, 5 August 2013

Chính Ta Là Người Quyết Định Số Phận Cho Mình



Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Đức chúa trời và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội.

Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ.

Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16.96 đô la Mỹ và tương đương 254.400 đồng Việt Nam.

Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình...

Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác.

Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas!

Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.

Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?"

Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Trời..."

Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Trời chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử.

Tương lai không hề được định trước. Chính chúng ta là người quyết định số phận của chính mình.

(sưu tầm)

Saturday, 3 August 2013

Kinh nghiệm Sống


Có một cậu bé bất ngờ đi đến gần một cụ già và hỏi: “Thưa ông, cháu nghĩ chắc hẳn ông là một người có rất nhiều kinh nghiệm sống. Và cháu muốn ông nói cho cháu biết những điều đó là gì ạ?”
Cụ già nhìn cậu bé một cách trìu mến và trả lời: “Trong suốt cuộc đời mình, ta đã trải qua rất nhiều sóng gió, đồng thời cũng cảm nhận được vô vàn thú vị. Bí mật ta có thể chia sẻ với cháu được ta đúc kết lại trong bốn điều:
Trước tiên, hãy suy nghĩ về giá trị cuộc sống của cháu trên cuộc đời này.
Thứ hai, luôn tin vào bản thân mình, tin vào định hướng con đường mà cháu đã xác định.
Thứ ba là ước mơ và hy vọng. Hãy mơ về những gì cháu có thể thực hiện trong khả năng của mình, dựa trên niềm tin vào chính bản thân.
Và điều cuối cùng là hành động. Cháu chỉ có thể biến những ước mơ của mình thành hiện thực khi cháu quyết tâm hiện thực hóa nó. Không bao giờ bỏ cuộc”.

Với tất cả những điều đó, cụ già đã nói lại với cậu bé rằng: “Hãy suy nghĩ, tin tưởng, ước mơ và hành động”.

Friday, 2 August 2013

Chuyện nhà rùa


Một hôm gia đình nhà Rùa quyết định sẽ đi picnic. Và với bản tính chậm chạp của mình, chúng đã mất bảy năm để chuẩn bị mọi thứ và lên đường. Mất thêm hai năm nữa để tìm ra một chỗ cắm trại. Rồi thêm sáu tháng để dọn dẹp và bày biện các thứ.

Nhưng rồi gia đình Rùa phát hiện ra rằng chúng đã quên mang theo muối. “Một chuyến picnic mà không có muối thì chẳng còn gì là thú vị”, gia đình nhà rùa đồng ý với nhau như vậy.

Sau hơn một tháng tranh cãi, cuối cùng một con rùa trẻ nhất, nhanh nhẹn nhất được giao nhiệm vụ quay về nhà lấy muối.

Vừa nghe vậy, con rùa được chọn đã bật khóc the thé, run rẩy thân hình trong chiếc vỏ, giãy nảy từ chối.

Rốt cuộc, nó cũng đồng ý đi về nhà lấy muối với một điều kiện: gia đình rùa không được phép ăn bất cứ thứ gì trước khi nó quay trở lại.

Họ nhà rùa đành phải đồng ý và con rùa nọ bắt đầu lên đường.

Nhưng rồi đã ba năm trôi qua mà con rùa nọ vẫn chưa quay lại. Rồi năm năm… chín năm, rồi mười bảy năm…

Cuối cùng rùa bô lão không thể nhịn đói được nữa bèn cắn một miếng bánh sandwich cho đỡ đói.

Đúng lúc đó, con rùa vắng mặt mười bảy năm qua đột ngột thò đầu ra từ một lùm cây, hét lên the thé:

- Đó… đó… tôi biết mà! Tôi biết là mọi người sẽ không đợi mà sẽ ăn trước khi tôi quay lại mà. Thôi thôi, tôi không đi lấy muối nữa đâu…

Rất nhiều người trong chúng ta lãng phí thời gian để chờ đợi người khác thực hiện những điều mà chúng ta mong đợi.

Rồi chúng ta quá lo lắng về những gì người khác đang làm đến nỗi không tự làm gì cho chính bản thân mình!

Bạn có giống con rùa trong truyện này không?

-Sưu Tầm-

Thursday, 1 August 2013

Bí mật của Thành công


Socrates là một triết gia nổi tiếng người Hy Lạp cổ đại. Ông sinh năm 469TCN ở Athens. Một ngày nọ có thanh niên trẻ hỏi ông rằng bí mật của sự thành công là gì. Ông đã hẹn gặp anh ta vào buổi sáng hôm sau ở ngoài bờ sông, khi đó ông sẽ trả lời.
Buổi sáng hôm sau, Socrates bảo người thanh niên nọ cùng đi xuống dòng nước. Khi nước đã lên đến cổ, ông bất ngờ dìm anh ta xuống. Người thanh niên hốt hoảng tìm mọi cách vùng vẫy để ngoi lên, nhưng rõ ràng sức mạnh của Socrates quá lớn, anh ta không thể làm gì được cho tới khi cảm thấy gần như ngạt thở.
Nhưng bằng hết sự cố gắng cuối cùng, sau một thời gian vật lộn khó khăn thì anh ta đã có thể ngoi lên khỏi mặt nước. Anh ta thở hổn hển và hít thật sâu.
Khi đó, Socrates hỏi: “Cậu đã muốn điều gì nhất khi bị dìm dưới nước?”
“Lúc đó tôi không nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài việc tìm mọi cách để thoát ra và hít thở không khí” - người thanh niên trả lời.
“Đó chính là bí mật để thành công. Lúc mà cậu ao ước mình có thể được thở bằng không khí cũng như cậu khao khát có được thành công vậy. Cậu sẽ nỗ lực tìm mọi cách để đạt được nó”.

Một khát vọng cháy bỏng là điểm khởi đầu cho mọi thành tựu. Nếu không có ước mơ, bạn sẽ chẳng bao giờ có được thành công. Cũng giống như một ngọn lửa nhỏ không thể tỏa ra nhiều nhiệt, một mong muốn yếu ớt không thể tạo nên những kết quả tuyệt vời.
Ngọc An (biên dịch)

Monday, 29 July 2013

Edison học hỏi từ sai lầm


Thomas Edison đã từng phải thử tới hai ngàn loại vật liệu khác nhau trong việc tìm kiếm và phát minh ra dây tóc bóng đèn. Khi đó, các trợ lý của ông đã phàn nàn: “Tất cả những gì chúng tôi làm là vô ích, chúng tôi chẳng học được điều gì cả”.
Edison mỉm cười và trả lời rất tự tin: “Ồ, chúng ta đã đi một chặng đường dài và đã học được rất nhiều đấy chứ. Ít nhất chúng ta đã học được rằng có hai ngàn loại vật liệu không thể sử dụng để làm dây tóc cho bóng đèn”

Saturday, 27 July 2013

Chuyện Lạc đà mẹ và Lạc đà con


Trong vườn thú có hai mẹ con chú lạc đà nằm cạnh nhau. Đột nhiên, chú lạc đà con hỏi mẹ: “Mẹ, con có thể hỏi mẹ  mấy câu được không ạ?”
Lạc đà mẹ nói: “Tất nhiên rồi, có điều gì khiến con phiền muộn sao?”
“Tại sao lạc đà lại có bướu hả mẹ” - chú lạc đà con hỏi.
Lạc đà mẹ trả lời: “Vì chúng ta là động vật sa mạc và chúng ta cần phải có bướu để dự trữ nước con à”
“Tại sao chân của chúng ta lại dài và bàn chân thì tròn”
“Điều đó giúp chúng ta đi bộ trong sa mạc trong thời gian dài mà không gặp phải khó khăn trở ngại gì. Chúng ta sẽ di chuyển tốt hơn bất cứ ai”
“Vậy tại sao lông mi của chúng ta lại dày và dài? Đôi khi nó khiến con khó chịu vì che khuất tầm nhìn”
Lạc đà mẹ tự hào: “Lông mi của chúng ta dày và dài để giúp bảo vệ đôi mắt khỏi cát bụi sa mạc”
Lạc đà con suy nghĩ một lát và nói: “Con hiểu rồi, vậy là cái bướu giúp chúng ta dự trữ nước, chân giúp chúng ta đi bộ, lông mi giúp bảo vệ mắt. Vậy thì những thứ đó để làm gì khi chúng ta đang ở trong vườn thú thế này?”

Bài học rút ra từ đây là: Kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức và khả năng chỉ là hữu ích, phát huy hết tác dụng khi chúng ta ở đúng vị trí.

Saturday, 15 June 2013

Có bao nhiêu con quạ ở Vương quốc


Một ngày nọ, hoàng đế Akbar và Birbal đi dạo trong vườn hoàng cung. Đó là buổi sáng mùa hè đẹp trời và có rất nhiều con quạ đang bay, đang đậu trên những cành cây. Trong lúc mải mê ngắm những chú quạ, chợt Akbar nghĩ ra một điều thú vị, ông tự hỏi liệu không biết có bao nhiêu con quạ trong vương quốc của mình.
Sẵn có Birbal đi cùng, ông quay sang và hỏi thắc mắc ấy. Sau một lát suy nghĩ, Birbal trả lời “Có 95.463 con quạ ở Anh”
Ngạc nhiên trước phản ứng nhanh chóng của Birbal, hoàng đế Akbar quay sang hỏi một lần nữa: “Nếu có nhiều hơn số quạ đó thì sao?”
Không do dự, Birbal trả lời: “Nếu có nhiều hơn số quạ ấy thì tức là đã có một số quạ bay từ những vương quốc láng giềng sang”
“Vậy nếu có ít hơn số quạ ấy?” - Akbar lại hỏi
“Nếu có ít hơn số quạ ấy thì có nghĩa là một số con quạ ở vương quốc chúng ta đã bay sang vương quốc khác”
Birbal thật thông minh và nhanh trí phải không? Vậy nên, trong cuộc sống, đôi khi bạn đừng nên quá phức tạp mọi vấn đề. Nó sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu bạn có cách suy nghĩ và lý giải đơn giản.

Thursday, 11 April 2013

Chuyện về con chim ó, con dơi, con ong nghệ và Con Người



Chuyện về loài chim ó:

Nếu bạn đặt một con chim ó vào một chiếc lồng, với kích thước khoảng 2m x 2,5m, và hoàn toàn không có nóc, tức là phần trên được mở toang; thì cho dù vẫn có khả năng bay lên, nhưng con chim này sẽ hoàn toàn trở thành một... tù nhân.


Lý do là một con chim ó luôn bắt đầu bay từ mặt đất lên, với đoạn “chạy đà” khoảng 3- 4m. Không có quãng đường để chạy, thì theo thói quen, chú chim thậm chí chẳng buồn cố gắng thử bay lên, mà sẽ chấp nhận bị cầm tù suốt đời, trong một “nhà giam” nhỏ chẳng hề có mái !

...................................

Câu chuyện về con dơi:

Một con dơi bình thường luôn bay ra ngoài vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, linh lợi đến mức ấn tượng.


Tuy nhiên, nó không thể cất cánh từ một địa điểm bằng phẳng. Nếu nó được đặt trên sàn hoặc một mặt phẳng, thì tất cả những gì nó có thể làm là lê bước loanh quanh một cách vô vọng, và, tất nhiên, một cách đau khổ.

Cho đến khi nó tìm được một độ cao nào đó, chỉ cần là một góc nâng nhỏ thôi, để từ đó, nó có thể tung mình vào không trung. Và, ngay lập tức, nó bay lên như một tia chớp.

................................

Câu chuyện về loài ong nghệ:

Một con ong nghệ, nếu bị thả vào một cái cốc lớn không có nắp, cũng sẽ ở đó cho đến khi chết, trừ phi chúng ta lôi nó ra.



Nó không bao giờ nhìn thấy đường thoát ở phía trên, mà cứ khăng khăng cố gắng tìm cách nào đó thoát ra qua các mặt bên, hoặc qua... đáy cốc. Nó sẽ tìm một con đường ở nơi mà không có con đường nào tồn tại, cho đến khi nó hoàn toàn tự hủy hoại mình.

.............................


Và câu chuyện về con người...

Theo rất nhiều cách, chúng ta cũng giống như con chim ó, con dơi và con ong nghệ. Chúng ta vật lộn với tất cả các vấn đề rắc rối và tuyệt vọng của mình, mà không bao giờ nhận ra rằng rất có thể một giải pháp ở rất gần, chỉ cần chúng ta nhìn lên cao hơn – hay nhìn hướng tới phía trước.

Nhìn ngược lại có thể khiến bạn buồn bã. Nhìn quanh có thể khiến bạn lo lắng. Hãy nhìn lên cao, và nhìn tới phía trước, đó là cách sống lạc quan. Và tinh thần tích cực, nhiều hy vọng chính sẽ giúp bạn tìm ra giải pháp trong hầu hết các trường hợp.

Có một tác giả đã viết: “Khi không có giải pháp nào xuất hiện ngay trước mắt, thì con người rất dễ kết luận rằng không có một giải pháp nào cả. Nhưng thực tế đã chứng minh, từ lần này sang lần khác, rằng giả thuyết đó là sai lầm”.

Chỉ cần bạn nhìn lên cao hơn, rộng hơn tình huống hiện tại, rất có thể bạn sẽ thấy một lối đi ngay trước mắt mình, Sống đơn giản, yêu thật lòng, quan tâm sâu sắc, nói lời tới phía trước. Đó là câu trả lời cho mọi vấn đề.

P/s: Trí tưởng tượng của con người là vô hạn, đừng để bị gò bó trong bất kì một khuôn khổ nào.


(Sưu tầm)

Monday, 1 April 2013

Đôi bàn tay nguyện cầu


Vào thế kỷ thứ 15, tại một ngôi làng nhỏ gần Nuremberg có một gia đình rất đông con. 18 đứa! Để kiếm đủ thức ăn đem về hằng ngày cho lũ trẻ, ông bố - một người thợ kim hoàn – đã phải làm việc vất vả gần 18 tiếng mỗi ngày và chẳng từ một bất kỳ công việc gì mà người trong làng thuê ông.

Mặc dù sống trong cảnh cùng quẫn, hai người con lớn Albrecht và Albert vẫn ấp ủ một ước mơ đẹp đẽ: cả hai đều muốn theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật,... nhưng thật đáng buồn vì người cha sẽ chẳng bao giờ kiếm đủ tiền để gửi họ đến học viện ở Nuremberg. Sau nhiều đêm dài cùng bàn bạc trên chiếc giường chật chội, hai anh em nghĩ ra được một cách: họ sẽ gieo đồng xu, người thua sẽ xuống làm việc trong hầm mỏ gần nhà kiếm tiền nuôi người kia suốt thời gian ở học viện, và sau 4 năm người được học trước sẽ phải lo tiền học cho người còn lại, cho dù đó là tiền lời bán tranh, hay nếu cần là tiền lương của công nhân hầm mỏ. Họ cùng nhau gieo đồng xu. Albrecht thắng và lên đường đến Nuremberg. Albert bắt đầu chuỗi ngày làm việc vất vả nhọc nhằn trong hầm mỏ và suốt bốn năm đều đặn gửi cho anh khoản tiền lương ít ỏi. Tại học viện, tranh của Albrecht được đánh giá như một bước đột phá. Những bức khắc, gỗ chạm, sơn dầu của anh vượt xa các giáo sư lâu năm. Đến lúc tốt nghiệp, Albrecht đã có thể kiếm được những món tiền lớn nhờ bán tranh.

Khi Albrecht trở về làng, gia đình Durer tổ chức một bữa tiệc lớn ăn mừng sự thành công của chàng họa sĩ trẻ. Sau bữa ăn dài thịnh soạn đầy tiếng cười và tiếng nhạc, Albrecht đứng lên nâng cốc về phía người em trai ở cuối bàn bày tỏ lòng biết ơn những năm tháng hy sinh thầm lặng để anh vun đắp cho hoài bão nghệ thuật: “Và bây giờ, Albert, em trai yêu quý của anh – Albrecht trìu mến nói – đã đến lúc em biến ước mơ của mình thành hiện thực. Hãy đến Nuremberg, anh sẽ lo tiền học cho em”.

Tất cả mọi người đều quay về phía cuối bàn nơi góc phòng. Albert ngồi đó, nước mắt ràn rụa trên gương mặt gầy gò xanh xao, chỉ có thể nghẹn ngào: “Không… không… không…”.

Cuối cùng Albert lau nước mắt đứng dậy, nhìn khắp lượt những người anh yêu thương rồi đưa tay ôm mặt khẽ nói:

- Ôi không anh ơi, đã muộn mất rồi. Em không thể đến Nuremberg được nữa. Hãy nhìn xem, những tháng năm dưới hầm mỏ đã tàn phá đôi tay em. Mỗi ngón tay đều đã dập nát không dưới một lần, và gần đây tay phải em lại bị chứng thấp khớp hành hạ, đến nỗi không thể cầm ly chúc mừng anh thì làm sao có thể cầm cọ vẽ những đường nét tinh tế trên khung vải trắng. Anh ơi, đã quá muộn rồi…

Lịch sử đã lùi vào quá khứ hơn 450 năm. Giờ đây, hàng trăm tác phẩm của Albrecht Durer được trưng bày trong nhiều viện bảo tàng lớn trên thế giới, nhưng điều lạ lùng là phần lớn người ta biết đến tranh ông, thậm chí treo trong nhà bản sao của chỉ một tác phẩm duy nhất.

Người ta kể lại rằng vào một ngày nọ, để tỏ lòng biết ơn đức hy sinh cao cả của người em trai, Albrecht đã kiên trì tái hiện từng đường nét của đôi bàn tay không còn lành lặn áp vào nhau, với những ngón tay xương gầy hướng lên trời. Ông gọi bức tranh của mình đơn giản chỉ là “Hands”, nhưng cả thế giới ngay lập tức đón nhận kiệt tác nghệ thuật này và đặt tên cho món quà tình yêu ấy là “The praying hands”. Đó là tác phẩm nghệ thuật được kết tinh từ bàn tay không phải chỉ của một người họa sĩ.

(sưu tầm)

Thursday, 21 March 2013

Giấc Mơ Của 3 Thân Cây


Ba cái cây trên một ngọn đồi trong rừng cùng tranh luận với nhau về những hi vọng và giấc mơ của chúng...


Cái cây đầu tiên nói: “Tôi hi vọng một ngày nào đó tôi sẽ trở thành tủ đựng vàng bạc châu báu. Tôi sẽ được nhét đầy vàng, bạc và ngọc quý, được trang hoàng với nghệ thuật chạm khắc cầu kỳ và mọi người sẽ thấy rằng tôi rất đẹp”.

Sau đó cái cây thứ hai nói: “Còn tôi lại ước có ngày sẽ trở thành một con tàu đồ sộ. Tôi sẽ đưa vua và hoàng hậu đi đến khắp mọi nơi trên thế giới. Mọi người sẽ cảm thấy được an toàn bởi con tàu to lớn và vững chãi là tôi đây”.

Cuối cùng cái cây thứ ba nói: “Tôi muốn lớn lên trở thành cái cây cao nhất và thẳng nhất trong khu rừng. Mọi người sẽ nhìn thấy tôi trên đỉnh đồi và sẽ phải ngưỡng mộ những cành cây của tôi, tưởng tượng về Thiên đường và Chúa. Tôi sẽ trở thành cái cây vĩ đại nhất mọi thời đại và mọi người sẽ luôn luôn nhớ đến tôi”.

Một vài năm sau buổi cầu nguyện, những giấc mơ của chúng tưởng chừng như có thể thành sự thật, một nhóm người đi lấy gỗ đến khu rừng đó. Khi một người đến cái cây đầu tiên, anh ta nói, “Nhìn cái cây này có vẻ to khoẻ này, tôi nghĩ có thể bán gỗ cho một người thợ mộc”

… và anh ta bắt đầu hạ nó xuống. Cái cây rất vui, bởi vì nó biết ngượi thợ mộc sẽ làm nó thành một cái tủ đựng châu báu.

Đến cái cây thứ hai người lấy gỗ nói “Nhìn cái cây này trông cũng khoẻ đấy chứ, tôi sẽ bán nó cho một xưởng đóng tàu”.

Và khi người lấy gỗ đến cái cây thứ ba, cái cây đã rất sợ hãi bởi vì nó biết rằng nếu họ chặt nó xuống thì giấc mơ của nó sẽ không bao giờ thành hiện thực. Một trong những người lấy gỗ nói : “Tôi không cần làm bất cứ cái gì đặc biệt nên tôi sẽ lấy cái cây này” và anh ta chặt cái cây xuống.

Khi cái cây đầu tiên đến chỗ người thợ mộc, nó được bác ta đục nó thành một cái như nôi trẻ con nhưng vì không vừa ý nên lại quẳng nó ra sân, thậm chí còn nhét cỏ khô vào. Sự thể đã không như cây tưởng tượng. Đây hoàn toàn không phải là những gì mà nó đã cầu nguyện.

Cái cây thứ hai thì được xẻ ra và đóng thành một cái thuyền đánh cá nhỏ. Giấc mơ của nó là trở thành một con tàu to lớn, đồ sộ và chở những ông vua đến đây cũng kết thúc.

Còn cái cây thứ ba được chặt ra thành từng khúc lớn và sống một mình trong bóng tối. Năm tháng qua đi nhưng những cái cây thì không thể quên được giấc mơ của chúng.

Sau đó, vào một buổi tối giá rét, có hai vợ chồng nghèo đi qua nhà bác thợ mộc. Họ bế một đứa bé mới sinh, đang khóc vì lạnh.Mà mẹ nhìn thấy cái nôi đầy khỏ khô ngoài hiên nên đặt đứa bé vào đó. Được ủ ấp trong cái nôi cỏ, đứa bé thôi khóc, Cái cây thứ nhất - nay là cái nôi -cảm nhận được sự quan trọng của mình lúc đó và biết rằng mình đang được đựng trong lòng một kho báu lớn hơn tất cả vàng bạc đá quí : một sinh linh bé bỏng và tình thương yêu cua bố mẹ em bé.

Ít lâu sau , người thợ đóng thuyền dùng chiếc thuyền nhỏ đóng băng cái cây thứ hai đi chơi và ngủ thiếp đi. Không may một lúc sau trời trở gió và nổi dông. Thuyền bắt đầu chao đảo, vô cùng nguy hiểm. Bỗng một người dân trên bờ nhìn thấy, vội chèo thuyền của mình thật nhanh tới chỗ người thợ đang ngủ. Bác thợ đóng thuyền tỉnh dậy ú ớ hoảng hốt,nhưng người dân kia đã bỏ thuyền của mình nhẩy sang thuyền của người thợ và lấy hết sức chèo vào bờ.Lúc đó cái cây thứ hai - nay là cái thuyền - đã biết rằng mình đang chở một vị vua của lòng dũng cảm.

Cuối cùng , cái cây thứ ba, sau một thời gian nằm trong kho tối tăm thì có người đến hỏi mua nó. Người này biến cây thành một cái cột nhỏ rồi vác lên đỉnh đồi, đóng xuống để sắp tới bắc đường dân điện-lần đầu tiên tới vùng hẻo lánh này. Đến khi người ta mắc đường dây điện, cái cây thứ ba - nay là cái cột điện-hiểu rằng mình đang đứng trên đỉnh đồi, cao hơn rất nhiều các cây khác và thực hiện một nhiệm vụ lớn lao khiến ai cũng có thể luôn nhớ tới.


Ý nghĩa:Khi mọi việc diễn ra không theo ý bạn mong muốn không có nghĩa là giấc mơ của bạn đã tan tành rồi. Trong cuộc sống luôn có những "kế hoạch dài hạn", người ta có thể có được những cái mà mình mong ước, nhưng không chắc là đúng như những gì người ta tưởng tượng.

Vì vậy, đừng vội từ bỏ ước mơ của mình khi bạn chưa trải qua sóng gió, bởi khi vượt qua được những khó khăn ấy, giá trị bạn có được còn hơn cả những ước mơ ban đầu.

(Sưu tầm)

Tuesday, 19 March 2013

Ý nguyện cuối cùng của Alexander Đại Đế



Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ông nhận ra rằng cái chết sắp sửa đến và ông sẽ không về kịp mảnh đất quê hương. Ông bảo các sỹ quan của mình:

“Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo”.

Các vị tướng tuân lệnh trong dòng nước mắt.

“Điều ước đầu tiên của ta là hãy bảo thầy thuốc của ta mang cái hòm rỗng của ta về một mình”.

Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander nói tiếp: “Ước nguyện thứ hai của ta là hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho tàng của ta trên suốt dọc đường đến nấm mồ khi các ngươi mang quan tài của ta ra nghĩa địa”.

Sau khi quấn mình trong chiếc áo khoác và nghỉ một lúc, ông nói tiếp: “Ước muốn cuối cùng của ta là hãy đặt 2 bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài”.

Mọi người xung quanh ông tất cả đều rất tò mò, nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân. Vị sủng tướng của Alexander hôn bàn tay ông và hỏi:

“Thưa đức Vua, chúng thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng Ngài có thể cho chúng thần biết tại sao Ngài lại muốn chúng thần làm như vậy hay không?“.

Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời:

“Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã học được. Để cho người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình là để người ta nhận ra rằng một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng phải trân quý cuộc sống của họ.

Mong ước thứ hai của ta là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên giống như ta theo đuổi mộng giàu sang. Ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu có, nhưng ta sẽ lãng phí hầu hết thời gian của đời người.

Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng”

Nói xong ông nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.

(Sưu tầm)

THAY ĐỔI - truyện 5 chương ngắn

  CHƯƠNG 1 Tôi đi trên một con phố. Trên vỉa hè có một hố sâu. Tôi không nhìn thấy và rơi xuống. Tôi chật vật mãi mới thoát ra được. Đó là ...